Nhật can cường vượng mới có thể “đảm nhiệm Tài, Quan”


Nhiều người thường có một nghi vấn: “Bát tự của tôi có Tướng tinh, vì sao không có quý nhân trợ giúp?”, “con cái của tôi có sao Hoa cái, vì sao thành tích sự nghiệp lại kém?” hay “tôi năm nay hành vận sao và Hồng loạn, tại sao vẫn chưa tìm được đối tượng kết hôn?”… Trong khi ra phân tích bát tự không nên có sự lẫn lộn. Ngũ hành của sao là dụng thần của bát tự mới sinh ra tác dụng đối với bát tự.

Nếu một người sinh ngày Giáp Mộc, sao Thái cực quý nhân là “Tự”. Nếu trong bát tự của người này xuất hiện Tý, mà Tý Thủy là dụng thần của bát tự, đại diện cho sao quý nhân phát huy công hiệu. Người này có một đời được quý nhân trợ giúp. Ngược lại, nếu “Tý” là Ngũ hành kỵ của bát tự, tất chủ không có quý nhân trợ giúp. Vì vậy, lấy dụng thần là có trọng tâm trong Bát tự học. Không hiểu phép lấy dụng thân cũng đồng nghĩa với việc không hiểu bát tự.

Trước khi quyết định dùng thần của bát tự, trước tiên phải xác định nhật can của bát tự ở trạng thái cường vượng hay yếu nhược. Trong mối quan hệ của bát tự, “nhật can vượng” và “nhật can suy có cách lý giải, hoàn toàn ngược nhau. Người có nhật can cường vượng có thể làm mọi việc thành công, có thể “đảm nhiệm Tài Linh, Quan tinh, Sát tinh”.

Cũng chính là nói, một người cường tráng mới có thể kiếm tiền, mới có khí lực đảm nhiệm được tài phú, làm quan, tiếp thu sự phê bình và bình luận của người khác. Một người thân thể khỏe mạnh mới có thể “đảm nhiệm Sát tinh”, tức bất luận việc thị phi, công kích, việc xảy ra ngoài ý muốn đều có thể hóa giải. Vì vậy, con người tốt nhất phải khiến cho bản thân mình khỏe mạnh. Thân thể khỏe mạnh chính là điều kiêng cơ bản nhất trong sự sinh tồn.

PHÂN LOẠI QUAN TINH

Quan tinh căn cứ vào sự tương hỗ chế dụng can chi khác nhau mà phân thành 3 loại. 3 loại Quan tinh khác nhau này có thể mang đến phúc khí khác nhau.

Ngược lại, một người thân thể suy nhược, tự nhiên sẽ gặp nhiều thị và phi kiện tụng, thiếu tiền tài, khó thành công. Vậy có phải bát tự yêu nhược tất sẽ kém hơn bát tự cường vượng? Điều này không hoàn toàn đúng. Bát tự coi trọng sự tương trợ của Ngũ hành.

Người có nhật can cường vượng giống như người béo cần giảm cân, giảm cân mới có thể khiến bản thân được nhẹ nhàng thoải mái. Vì vậy, phàm là người có nhật can cường vượng nhất định phải tiêu hao bớt sức h. mạnh của nó mới có thể hành vận tốt. Điều này giống như người béo giảm cân thành công. Tương tự như vậy, nhật can suy nhược đại diện là cho người có thể chất yếu ớt. Đương nhiên, giải pháp trong trường hợp này là tăng cân, khiến cho anh ta có thể phách cường tráng, đủ sức khỏe để đối diện với công việc và khó khăn, – Khi đặt một đĩa thức ăn trước mặt, đối với người suy nhược, đón chính là cao lương mỹ vị, có thể khiến cho anh ta lột xác thay đổi.

Đối với người cường tráng béo phì lại giống như liều thuốc độc, khiến cho thể trọng tăng lên, cuối cùng dẫn đến tai biến mạch máu mà tính mạng gặp nguy khó. Vì vậy, cùng một loại Ngũ hành đối với mỗi người sản sinh ra hiệu quả trái ngược nhau.

Người có nhật can cường vượng không thích sinh trợ mà ưa khắc tiết. Khi Nhật can vượng có 2 loại: Nhật can là tính dương và nhật can tính âm.

Ví dụ: Nhật can thuộc tính dương, tức Giáp Mộc, Bính Hỏa, Mâu Thổ, Canh Kim, Nhâm Thủy, có thể chịu được bất kỳ hình khắc nào. Nếu nhật can thuộc tính âm, tức Ất Mộc, Định Hóa, Kỷ Thổ, Tân Kim. Quý Thủy, cho dù bản thân rất cường vượng vẫn không ưa Quan Sát tiết hao.

Lấy Ất Mộc làm ví dụ, cho dù người có nhật can Ất Mộc cường vương vẫn không thích sự khắc phạt của Canh, Tân Kim. Đối với nam giới, người có nhật can thuộc tính âm không thích gặp Quan tinh, vì Quan tinh là khắc tinh. Ngược lại, nhật can thuộc tính dương có xu hướng thích gặp Quan tinh.

Ví dụ: Canh Kim cương vượng, ưa Hỏa đến khắc chế. Nếu là nữ giới Ba có nhật can thuộc tính dương tất dễ dàng lấy chồng, vì mệnh dương thích được khắc chế. Nữ giới có nhật can thuộc tính âm lại ở thế ng cường vượng không thích kết hôn do không thích bị quản thúc. Nói cách khác, nữ giới có nhật can là Ất Mộc, Đinh Hỏa, Kỷ Thổ, Tân, Kim, Quý Thủy nếu nhật can cường vượng, bản tính là người không Ta thích bị quản thúc, không thích bị chồng khống chế, chỉ có thể là ta quản lý ngược lại chồng. Nếu chồng muốn quản họ, tất khó tránh kết cục ly hôn.

Phàm người có nhật can thuộc tính âm kỵ nhất gặp sự việc như bị Ta công kích, kiện tụng, đụng xe. Người có nhật can thuộc tính dương ít Ta gặp phải tai họa bất ngờ, cũng dễ dàng tiếp nhận sự phê phán, chỉ trích. Đà Nếu nhật can cần sự khắc chế thì mệnh có nhật can thuộc tính âm là về cơ bản không thích loại hình khắc này, nhưng mệnh có nhật can thuộc tính dương lại ưa gặp. Đây là bí quyết học nhanh bát tự. Người có nhật can thuộc tính âm không ưa gặp Quan Sát.

Đây là sự phân biệt 4 lớn nhất của nhật can tính âm và nhật can tính dương. Người có nhật can thuộc tính dương sẽ ít gặp phải trở ngại, người có Ta nhật can thuộc tính âm lại luôn lo lắng u sầu, thích tự tìm đến sự phiên Ta não. Người có nhật can thuộc tính dương làm việc theo nguyên tắc, rất nhanh chóng quên đi đau khổ. Người có nhật can thuộc tính âm làm ra việc theo tình cảm, dễ tự tìm đến đau khổ.

Tin tức liên quan

10 kỹ năng lấy dụng thần

Dưới đây đưa ra “10 kỹ năng lấy dụng thần”, tức 10 khái niệm cơ bản lấy dụng thần. Sau khi hiểu ...

Đắc thời, đắc địa, đắc thế

Hiểu được lý luận nhật can cường vượng mới có thể nắm được chính xác dụng thần của bát tự, ...

Căn cứ vào lưu niên để phán đoán tình hình cụ thể

Khi xác định đặc tính của bát tự cũng liệt ra cát hung của đại vận. Dưới đây luận về tình hình ...

Tác dụng thần kỳ của “Thiên can ẩn tàng trong Địa chi”

Khi đã nắm được lý luận cơ bản về phương pháp lấy dụng thần trong bát tự, tiếp theo dưới đây thông ...

Hợp cục biến hóa khôn lường

Phương pháp lấy dụng thần về cơ bản tuân theo quy luật dưới đây: Thứ nhất, trước tiên bắt đầu ...

Bát tự đại diện cho người thân thích

Ngoài ra, “giờ, ngày, tháng, năm” của bát tự cũng lần lượt đại diện cho tuổi thơ, thanh niên, trung ...